Tìm kiếm
Những tồn tại, hạn chế của ngành công nghiệp hỗ trợ Đà Nẵng thời gian qua
Người đăng tin: Administrator Ngày đăng tin: 24/07/2017 Lượt xem: 71

Những mặt đạt được của ngành công nghiệp hỗ trợ Đà Nẵng:

- Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNHT đã có sự gia tăng từng bước về số lượng và quy mô. Nhiều doanh nghiệp được thành lập mới trong lĩnh vực CNHT chủ yếu là doanh nghiệp FDI trong các lĩnh vực như: linh kiện điện tử, phụ tùng ôtô, phụ kiện may mặc.  

- Về công nghệ: Một số doanh nghiệp đã chủ động đầu tư vào công nghệ để sản xuất sản phẩm CNHT. Nhờ đó, trình độ công nghệ được cải thiện. Một số sản phẩm CNHT có khả năng cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu và có chất lượng tốt tham gia vào chuỗi cung ứng (như sản phẩm của Công ty CP cao su Đà Nẵng, Tổng Công ty CP dệt may Hòa Thọ, Công ty TNHH Mabuchi motor Đà Nẵng, Công ty TNHH điện tử Foster’s, Công ty TNHH công nghiệp Daeryang Việt Nam…).

- Về thị trường: Một số sản phẩm CNHT bắt đầu được hình thành đáp ứng tốt thị trường trong nước và xuất khẩu, mặc dù quy mô chưa lớn. Các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã chú trọng đến việc tìm kiếm nhà cung cấp và đặt hàng đối với sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.

- Về lao động: Số lao động các doanh nghiệp CNHT đa dạng, tùy theo đặc thù mỗi ngành mà tỷ lệ lao động kỹ thuật và lao động phổ thông có tỷ lệ khác nhau. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ là 30-40%, cho thấy trình độ chất lượng lao động của doanh nghiệp CNHT khá tốt so với mặt bằng chung là 15%.
  • Những hạn chế của ngành công nghiệp hỗ trợ Đà Nẵng trong thời gian qua:

- Về cơ chế chính sách phát triển CNHT: Các cơ chế chính sách đã được ban hành như: Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg, Quyết định 1483/QĐ-TTg với nhiều chính sách hỗ trợ về hạ tầng, khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, tài chính… nhưng hầu như chưa có doanh nghiệp tiếp cận được các chính sách này do thủ tục hành chính còn rườm rà, các chính sách ưu đãi chưa rõ ràng, chưa đủ hấp dẫn doanh nghiệp đầu tư và tốn nhiều thời gian chờ đợi để hưởng các chính sách ưu đãi đó. 

- Về sản phẩm, thị trường: Doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm CNHT còn ít. Các thiết bị, công nghệ dành cho lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ còn lạc hậu, giá thành cao nên gặp khó khăn khi tham gia vào một sản phẩm nào đó trong chuỗi giá trị... Sản phẩm CNHT chủ yếu phục vụ cho tiêu thụ nội địa khoảng 40%, chủ yếu là xuất khẩu 60%. Tuy nhiên việc xuất khẩu còn gặp nhiều khó khăn do chưa có kênh tiếp cận thị trường hoặc chưa đảm bảo quy mô công suất sản xuất với số lượng lớn. Hoạt động sản xuất linh phụ kiện phục vụ các ngành công nghiệp công nghệ cao do doanh nghiệp FDI thực hiện do lợi thế về vốn, công nghệ, trình độ quản lý cũng như quan hệ lâu năm với các nhà sản xuất lắp ráp lớn trên thị trường trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, sản phẩm cung ứng thường là đơn chiếc với chủng loại hạn chế, số lượng ít; các loại linh phụ kiện đặc thù, trang thiết bị, công cụ phục vụ nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm công nghiệp công nghệ cao chưa thu hút được doanh nghiệp tham gia đầu tư sản xuất, chủ yếu là nhập khẩu.

- Về Công nghệ: Đa số doanh nghiệp CNHT trình độ công nghệ đang phổ biến ở mức trung bình. Chỉ có khoảng 20-25% số doanh nghiệp (chủ yếu là doanh nghiệp FDI và một số doanh nghiệp lớn có trình độ công nghệ tiên tiến tương đương các nước trong khu vực). Công nghệ gia công còn lạc hậu, công suất thấp, giá thành cao, chất lượng chưa ổn định. Các doanh nghiệp nước ngoài có công nghệ gia công tiên tiến hơn, chủ yếu đáp ứng nhu cầu của công ty mẹ.

- Về năng lực cạnh tranh: Năng lực cạnh tranh của các cơ sở sản xuất CNHT chưa cao. Thiếu sự phối kết hợp, phân giao chuyên môn hóa giữa các cơ sở sản xuất hỗ trợ và hầu như thiếu hẳn sự phối hợp, phân giao sản xuất, liên kết giữa nhà sản xuất chính với các nhà sản xuất phụ, giữa các nhà sản xuất phụ với nhau, giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp nội địa. ngành công nghiệp sản xuất linh phụ kiện phục vụ các ngành công nghiệp công nghệ cao còn hạn chế.

- Thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao: Để đạt được các tiêu chuẩn do các nhà đầu tư đưa ra, các ngành CNHT tại thành phố gặp nhiều bất lợi do thiếu đội ngũ nhân lực có trình độ, nhất là các kỹ sư và kỹ thuật viên có tay nghề cao đã qua đào tạo. Các doanh nghiệp FDI thường không thể thu hút đủ nhân lực có trình độ cao phục vụ cho nhu cầu để đầu tư sản xuất do đó làm cho khả năng sản xuất thấp, không có khả năng tiếp nhận các công nghệ hoặc thiết bị mới.

- Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước có nguồn lực tài chính yếu so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, do đó phải vay vốn với lãi suất cao, thời gian vay ngắn (nhất là những năm 2012 về trước), dẫn đến giá thành sản phẩm cao, sức cạnh tranh thấp.

P.QLCN-SCT
Chuyên mục, tin tức liên quan:

 

      

     

Trang thông tin điện tử Sở Công Thương thành phố Đà Nẵng

Địa chỉ: Tầng 19, Trung tâm Hành chính Đà Nẵng - 24 Trần Phú - TP Đà Nẵng

Điện thoại: (0236) 3 895 300 - Fax: (0236) 3 889 540 - Email: sct@danang.gov.vn

Phiên bản: Desktop | Mobile

Thiết kế bởi: DNICT

Thống kê truy cập Thống kê truy cập

0 0 2 8 9 1 7 0 7
Hôm nay: 12.689
Hôm qua: 8.734
Tuần này: 0
Tháng này: 161.026
Tổng cộng: 2.891.707